Từ năm 1999

Tin tức & Đánh giá Uy tín

26

năm

Tinh hoa sân khấu Anh Quốc

Vé chính thức

Chọn chỗ ngồi của bạn

Từ năm 1999

Tin tức & Đánh giá Uy tín

26

năm

Tinh hoa sân khấu Anh Quốc

Vé chính thức

Chọn chỗ ngồi của bạn

  • Từ năm 1999

    Tin tức & Đánh giá Sân khấu Uy tín

  • 26

    năm

    Tinh hoa sân khấu Anh Quốc

  • Vé chính thức

  • Chọn chỗ ngồi của bạn

TIN TỨC

ĐÁNH GIÁ: Falstaff, Nhà hát Arcola ✭✭✭✭✭

Phát hành lúc

Bởi

Tim Hochstrasser

Chia sẻ

Falstaff

Arcola Studio 1

18/08/15

5 Sao

‘Người ta sai rồi khi nói rằng nhạc kịch thính phòng không còn như xưa nữa. Nó vẫn vậy thôi. Đó chính là vấn đề của nó.’ Noël Coward Khi Verdi được một nhà báo hỏi về lý thuyết sân khấu của ông vào những năm cuối đời, ông chỉ đơn giản trả lời: ‘Lý thuyết của tôi là một khán phòng chật kín’. Tôi tin rằng ông sẽ rất hài lòng với cả buổi diễn lẫn tình trạng cháy vé tại các đêm diễn Falstaff (1893) – tác phẩm cuối cùng của ông – do đoàn Fulham Opera thực hiện. Verdi không phải là một nhà lý thuyết suông mà là một con người thực thụ của sân khấu, và bản dựng này đã chia sẻ đúng tinh thần đó: tôn trọng tuyệt đối các giá trị âm nhạc của một tác phẩm kinh điển nhưng vẫn sẵn sàng đón nhận những ý tưởng dàn dựng mới để thu hút khán giả hiện đại. Điều này đặc biệt cần thiết cho các vở hài kịch có bối cảnh lịch sử cụ thể. Sau những tượng đài hài hước như Monty PythonBlackadder, thật khó lòng để trình diễn loại hình opera này trong những bộ trang phục cổ điển thô kệch mà thiếu đi một góc nhìn châm biếm; bởi vậy, việc tách lớp thời gian và tái hiện nó ở một thời kỳ hoàn toàn khác, hoặc trong bối cảnh hiện đại – như ở đây – nơi nó thực sự trở thành The Merry Chavs of Windsor (Những kẻ thích khoe mẽ vui vẻ ở Windsor), là một hướng đi hiệu quả hơn nhiều. Kết quả là một trong những minh chứng rõ nét nhất cho tinh thần của liên hoan Grimeborn mùa này và là một lời phản bác tuyệt vời cho câu trích dẫn của Coward ở đầu bài viết.

Studio 1 tại Arcola có thể là một không gian khó xử lý: khu vực biểu diễn chính khá nhỏ, đặc biệt khi phải dành chỗ cho cả các nhạc công; và nếu nhiều hành động diễn ra ở phần gác lửng phía trên thì ít nhất một phần ba khán giả sẽ bị hạn chế tầm nhìn. Điểm cộng đầu tiên cho bản dựng xuất sắc này là nó đã tận dụng không gian rạp hát một cách vô cùng hợp lý trong khi giảm thiểu tối đa các hạn chế của địa điểm.

Có một sự linh hoạt trong chuyển động của các nhân vật, dù là cá nhân hay theo nhóm, điều này cho thấy kinh nghiệm dày dạn và sự nhạy bén của đạo diễn Daisy Evans. Hai vai diễn tuyệt vời Bardolph (Oliver Brignall) và Pistol (Antoine Salmon) chạy nhảy khắp các lối đi giữa khán giả, tạo nên một nguồn năng lượng không ngừng nghỉ trong khi vẫn giữ được giọng hát chỉn chu. Xung quanh một điểm cố định duy nhất – quầy bar của quán trọ Garter – đồ đạc và đạo cụ được luân chuyển dễ dàng, đảm bảo luôn có đủ không gian trống để diễn xuất. Vở diễn cũng có nhiều vũ đạo hơn bình thường. Tôi chưa bao giờ nghĩ vở opera này lại giàu tiềm năng biên đạo đến thế, nhưng giờ đây có rất nhiều phân đoạn khiến tôi khó có thể quên được – như màn Falstaff rón rén hồi tưởng về thời trai trẻ làm tiểu đồng, hay màn kết thúc theo phong cách disco cho Hồi Ba là hai ví dụ nổi bật.

Nhịp độ dồn dập lại càng quan trọng hơn vì đội ngũ sáng tạo đã quyết định gộp hai hồi đầu lại với nhau, tạo nên một hiệp đầu rất dài khoảng 100 phút. Việc thời gian trôi qua nhanh và đầy ấn tượng như vậy dĩ nhiên là nhờ toàn bộ dàn cast, nhưng trên hết có lẽ là nhờ nghệ sĩ piano Jonathan Musgrave, người đã nhận được những tràng pháo tay nồng nhiệt xứng đáng khi kết thúc buổi tối. Các nghệ sĩ đệm nhạc (repetiteurs) vẫn chưa nhận được sự ghi nhận đúng mức, nhưng thật khó để hình dung Grimeborn sẽ ra sao nếu thiếu họ. Ban đầu tôi hơi hoài nghi về việc vở opera này sẽ vang lên thế nào nếu thiếu đi những nét phối khí tài tình mà Verdi đã dày công chăm chút. Tuy nhiên, những điểm xuyết về màu sắc và kỹ thuật điêu luyện (bravura) mà Musgrave mang lại đã khiến tất cả chúng ta quên mất rằng mình đang nghe một bản rút gọn cho piano. Nhịp độ sắc sảo, đan xen với những khoảng lặng và sự biến chuyển âm lượng rộng lớn, chính là yếu tố then chốt tạo nên thành công cho bản dựng này. Ben Woodward trong vai trò chỉ đạo âm nhạc đã định ra khung nhịp cho các ca sĩ, nhưng chính Musgrave mới là người tạo nên nền tảng vững chắc xuyên suốt cả buổi tối.

Đây không phải là một vở opera dễ dàn dựng. Các ca sĩ vừa phải là những diễn viên thượng hạng, vừa phải có khả năng xử lý những dòng nhạc phức tạp ngay khi đang di chuyển. Về mặt âm nhạc, nó cực kỳ cô đọng. Những giai điệu tuyệt vời vụt qua một cách hào phóng, minh chứng cho toàn bộ tài năng mà Verdi có được trong phong cách cuối đời. Chúng ta vốn quen với việc các nhà soạn nhạc cho chúng ta nhiều cơ hội để nghe lại các giai điệu dưới nhiều hình thức khác nhau để cảm nhận hết sự phong phú của chúng. Ở đây thì không. Hầu như không có giai điệu nào lặp lại, khiến một số nhà phê bình lầm tưởng vở opera này thiếu nhạc tính – một sự hiểu lầm tai hại. Vì vậy, các ca sĩ thực sự phải làm cho giai điệu ghi dấu ấn ngay lần đầu vang lên, đồng thời vẫn phải diễn xuất tự nhiên. Một yêu cầu quá cao, nhưng dàn cast này đã thực hiện được.

Không có một mắt xích yếu nào, và ở cả dàn hợp xướng toát lên một sự tự tin thoải mái, cho thấy mọi người đều đủ vững vàng về kỹ thuật và đồng điệu với tinh thần của vở diễn để thực sự tận hưởng nó. Keel Watson sinh ra là để dành cho vai Falstaff. Anh có một giọng hát nội lực khi cần thiết, và một phong thái lừa lọc ranh mãnh, hóm hỉnh nhưng vẫn rất ung dung, khiến chúng ta thấy gã già ranh mãnh này vừa là một kẻ bất lương, vừa là một người đầy sức hút. Những góc tối hơn trong nội tâm của hiệp sĩ béo này, được soạn giả Arrigo Boito lồng ghép khéo léo từ các vở kịch Henry IV, cũng được truyền tải đầy cảm xúc và cường độ.

Trong số các nhân vật nam chính khác, Oliver Gibbs trong vai Ford đã thể hiện xuất sắc aria ‘ghen tuông’ của mình, phần duy nhất của vở opera này gợi nhớ đến sự kịch tính bi thảm của vở Otello; và Roberto Abate, trong vai người tình trẻ Fenton, đã thể hiện đúng sự nồng nhiệt và lãng mạn vô tư để lột tả các khía cạnh chính của nhân vật. Các vai hài, như tôi đã đề cập, đều diễn rất tới, và được bổ trợ bởi một Dr Cajus thô lỗ một cách hợp lý qua sự thể hiện của Brian Smith-Walters.

Bốn nhân vật nữ chính có giọng hát riêng biệt và phối hợp với nhau rất ăn ý. Đặc biệt, Catherine Rogers trong vai Alice Ford rất uy quyền về giọng hát, đóng vai trò dẫn dắt với sự sáng tạo trong diễn xuất hài hướng, và Lindsay Bramley trong vai Mistress Quickly đã khai thác tối đa tiềm năng gây rối trong vai diễn của mình. Nhìn chung, các vai diễn này ít trang nghiêm và tự mãn hơn so với bình thường. Tôi đã từng thấy những vai này được diễn theo kiểu ‘Những bà nội trợ kiểu Mỹ ở Windsor’, nhưng diễn theo kiểu những ‘Essex Girls’ (gái quê sành điệu) thì đúng là một sự thay đổi mới mẻ. Dù ai thiết kế trang phục – không có tên trong chương trình – cũng đã làm rất tốt việc ‘phối’ những màu sắc sặc sỡ, đối chọi nhau với những phụ kiện lấp lánh ‘kém sang’ một cách đầy chủ ý.

Không phải mọi thứ đều hoàn hảo. Vì một lý do khó hiểu nào đó, phần phụ đề của bản dịch lời kịch hiện đại rất tuyệt vời lại được chiếu ở vị trí khiến một phần lớn khán giả không nhìn thấy, và tôi cũng nghĩ rằng việc lăn Falstaff vào dàn nhạc cùng với đống quần áo bẩn là một cách xử lý hơi yếu để kịch tính hóa việc ông ta bị quăng xuống sông Thames. Nhưng không sao: buổi tối hôm nay có quá nhiều ưu điểm, thực tế là nhiều tiếng cười chân thực hơn hẳn so với những bản dựng truyền thống, đến mức nó xứng đáng nhận được danh hiệu cao quý nhất.

Ảnh: Robert Workman

Tìm hiểu thêm về Liên hoan Grimeborn

Chia sẻ bài viết này:

Cập nhật những tin tức đặc sắc nhất về sân khấu kịch Anh ngay trong hộp thư của bạn.

Cập nhật ngay để sở hữu sớm nhất những tấm vé đẹp nhất, ưu đãi độc quyền và tin tức nóng hổi từ West End.

Bạn có thể hủy nhận tin bất kỳ lúc nào. Chính sách bảo mật

Theo dõi chúng tôi