Since 1999

Trusted News & Reviews

26

years

best of british theatre

Official tickets

Pick your seats

Since 1999

Trusted News & Reviews

26

years

best of british theatre

Official tickets

Pick your seats

  • Since 1999

    Trusted News & Reviews

  • 26

    years

    best of british theatre

  • Official tickets

  • Pick your seats

ĐÁNH GIÁ: Vở kịch It's Only A Play tại Nhà hát Gerald Schoenfeld ✭✭✭

Phát hành lúc

Bởi

Stephen Collins

Share

Rupert Grint (trái), Megan Mullally, Matthew Broderick, Nathan Lane và Stockard Channing cùng tỏa sáng trong vở kịch "It's Only a Play" trên sân khấu Broadway. Ảnh: Joan Marcus It's Only A Play

Nhà hát Gerald Schoenfeld

Ngày 30 tháng 10 năm 2014

Nathan Lane. Stockard Channing. Rupert Grint. Megan Mullally. F Murray Abraham. Matthew Broderick. Với một dàn diễn viên tên tuổi lẫy lừng như vậy, điều gì có thể sai được chứ? Nhất là khi họ không diễn Ibsen hay Chekhov (dù điều đó cũng chẳng vấn đề gì) mà là một vở hài kịch "mới" từ ngòi bút của Terrence McNally – người từng đoạt nhiều giải thưởng danh giá? Lại còn được dàn dựng bởi Jack O'Brien, vị đạo diễn lừng danh từng thắng giải Tony với các vở (của Stoppard) Coast Of Utopia và (của Shakespeare) Henry IV? Thật sự đấy, làm sao mà dở được?

Vở kịch It's Only A Play của McNally, dưới bàn tay nhào nặn của đạo diễn O'Brien, hiện đang công diễn tại Nhà hát Gerald Schoenfeld ở Broadway, đã đưa ra câu trả lời cho câu hỏi đó một cách vô cùng rõ nét và ấn tượng.

Đây là lần thứ ba vở kịch này của McNally tìm đường lên sân khấu Broadway và ông đã chỉnh sửa, cập nhật nó cho lần tái xuất này. Ngoại trừ hai trường hợp ngoại lệ, thật khó có thể mong đợi một dàn diễn viên nào tuyệt vời hơn. Chắc chắn cũng không thể kỳ vọng một thiết kế sân khấu nào đẹp hơn (Scott Pask đã tạo nên một căn hộ Art Deco đầy hào nhoáng và rực rỡ) hay phục trang ấn tượng hơn (Ann Roth đã thiết kế những bộ cánh đêm khai màn cực kỳ tinh tế). Thật vậy, mọi yếu tố hỗ trợ kỹ thuật đều đạt đẳng cấp hàng đầu.

Thế nhưng, dù đã qua ba lần chỉnh sửa, cốt truyện của McNally vẫn mỏng đến mức khó tin. Chuyện kể về một vở kịch mới vừa khai màn tại Broadway, nơi ngôi sao chính, tác giả, đạo diễn, bạn thân của nhà văn và nhà sản xuất đang lo lắng chờ đợi những lời phê bình. Điểm xuyết thêm một biên kịch trẻ đầy tham vọng và một diễn viên tập sự, cùng hàng tá những câu nói đùa nội bộ về giới sao và những "triết lý" thông thường về thánh đường sân khấu, thế là hết. Những lời phê bình đầu tiên không mấy khả quan và bầu không khí u ám bao trùm. Có một "nút thắt" ở cuối kịch nhưng nó chỉ càng làm nổi bật sự hời hợt của tác phẩm.

Những màn đối đáp sắc sảo, đôi khi độc địa, đôi khi dí dỏm chính là linh hồn của buổi tối. Vở kịch của McNally dường như không định hình rõ mình là gì, ngoại trừ việc tạo ra một dịp để châm biếm về diễn viên, giới phê bình, biên kịch và bản chất phù du, chóng vánh của sự thành công. Vở kịch dành phần lớn thời gian để nhắc tên những ngôi sao không hề xuất hiện để chế giễu không thương tiếc, mổ xẻ cây bút phê bình chính của tờ New York Times và nói xéo bất kỳ ai có liên quan đến sân khấu. Nếu chỉ dừng lại ở đó, đây hẳn đã là một bữa tiệc hài hước, lấp lánh và đầy sảng khoái theo phong cách của Oscar Wilde.

Tuy nhiên, sang đến Hồi Hai, kịch lại cố gắng một cách gượng ép để thêm thắt chiều sâu, để khai thác tình bạn, sự chân thành, hay tạo ra những giây phút cảm động xoay quanh những vấn đề quan trọng của sân khấu. Đây là một bước đi sai lầm và suýt chút nữa đã làm hỏng mạch cảm xúc hài hước đang tuôn chảy.

Dẫu vậy, khán giả vẫn có được những trận cười sảng khoái từ những nhân vật được cường điệu hóa, và McNally chắc chắn rất biết cách trau chuốt những câu thoại ngắn gọn và sắc như dao cạo. Bạn sẽ cần khá nhiều kiến thức về Broadway, lịch sử và các ngôi sao của nó để có thể bắt kịp hết những câu đùa ngầm – tôi đặc biệt thích khoảnh khắc nhân vật của Nathan Lane đau khổ thừa nhận rằng anh ta thích vở nhạc kịch The Addams Family. Nhưng nếu bạn không biết Lane từng đóng chính trong vở nhạc kịch đó (vốn dĩ theo tôi là không đáng bị chê thậm tệ), bạn có thể bỏ lỡ tiếng cười này. Và còn nhiều tình tiết khác cũng được tung ra mà không có sự dẫn dắt rõ ràng trong chính vở kịch.

Một vài lựa chọn của tác giả khiến tôi thấy băn khoăn. Tại sao số phận của cả một dự án, của cả dàn diễn viên và đoàn làm phim, lại chỉ dựa dẫm vào bài phê bình trên tờ New York Times? Một bài bình luận hay đâu có nghĩa là tác phẩm đó thành công, và ngược lại. Khán giả mới là người quyết định – và vì sân khấu là dành cho khán giả, nên mọi chuyện vốn dĩ nên như vậy. Những vở như Les Miserables hay We Will Rock You thuở đầu chẳng nhận được mấy lời khen từ giới chuyên môn nhưng vẫn diễn liên tục suốt bao năm qua. Giới phê bình không nên và không có quyền lực để khai tử một chương trình hay đẩy một tác phẩm vào quên lãng. Thế mà, đây lại là tiền đề xuyên suốt của It's Only A Play.

Nếu ý đồ của McNally là châm biếm quyền lực của giới phê bình, thì ông đã thất bại. Ông tạo ra những câu đùa xuất sắc về họ nhưng lại thừa nhận quyền lực đó với một sự nhiệt tình đến mức kỳ lạ. Phản ứng của các nhân vật trước bài phê bình giả định đầy cay nghiệt (nhưng cực kỳ buồn cười) của Ben Brantley cho thấy cái nhìn của McNally về tương lai sân khấu chẳng mấy lạc quan.

Dù sao, Jack O'Brien cũng đã vận dụng chất liệu này một cách khéo léo để chắt lọc mọi tiếng cười có thể (kể cả những chỗ không đáng cười) bằng một lối dàn dựng tinh tế, rõ ràng, giúp đánh lạc hướng khán giả khỏi những lỗ hổng trong kịch bản. Dàn sao lấp lánh cũng đã hỗ trợ đắc lực cho ông trong màn ảo thuật này.

Micah Stock có màn ra mắt Broadway đầy ấn tượng bên cạnh những tên tuổi lớn. Anh đã diễn tròn vai một nhân vật vốn dĩ... khó tin. Anh vào vai Gus, một diễn viên mới đến thành phố đang thất nghiệp và làm phục vụ tại nhà của bà bầu sân khấu. Anh chàng ngơ ngác khi thấy người trong giới không gọi nhau là "ngài" mà thích dùng "cưng ơi", "người đẹp" hay mấy từ thân mật tương tự; vậy mà khi cần, anh ta lại có thể biến hóa thành một phiên bản "Defying Gravity" hài hước đến kinh ngạc để khích lệ tinh thần mọi người.

Stock diễn rất xuất sắc. Anh tận dụng tối đa mọi cơ hội gây cười và có những nét chấm phá nhỏ (như dáng đứng khép nép hay thói quen chỉnh đốn phục trang) cho thấy sự đầu tư kỹ lưỡng vào nhân vật. Càng về sau, khi Gus dần hòa nhập hơn, Stock càng thể hiện nhân vật một cách phóng khoáng và hài hước hơn, đỉnh điểm là màn biến tấu vở Wicked – một điểm nhấn thực sự của buổi tối.

Stockard Channing đã có một vai diễn để đời trong hình ảnh một ngôi sao Hollywood hết thời, một diễn viên nhí từng phẫu thuật thẩm mỹ sau khi bị chê bai trong vai Baby June vở Gypsy; một kẻ nghiện ngập, đang hưởng án treo vì tội giết người, trông cứ như một phiên bản đời thực của câu hỏi "Chuyện gì đã xảy ra với Baby Jane?". Cô quay lại Broadway với hy vọng vực dậy sự nghiệp qua vở kịch mới.

Channing thật tuyệt vời. Cô tung ra những câu nói sắc sảo một cách đầy thích thú, lột tả trọn vẹn các cung bậc từ trầm uất đến giận dữ điên cuồng của một ngôi sao đã khuất bóng, và kỳ diệu thay, cô vẫn chiếm được sự đồng cảm khi nghe những lời phê bình xỉa xói về vai diễn của mình. Cô là bậc thầy của những nhịp nghỉ, những cái liếc mắt nhanh nhạy để bắt lấy tiếng cười, và cô có thể duy trì sự hài hước đó như một nghệ sĩ tạp kỹ thực thụ.

Megan Mullally một lần nữa chứng minh thực lực của mình qua vai diễn bà bầu sân khấu giàu nứt đố đổ vách, đơn thuần nhưng lại vô cùng quái chiêu. Đây là một nhân vật đầy đặn, rộn ràng và đầy ắp những tiếng cười náo nhiệt. Cô xuất hiện rạng rỡ và thực sự đã hoàn thành xuất sắc vai diễn của mình.

F. Murray Abraham có lẽ đảm nhận vai diễn khó nhằn nhất: một nhà phê bình sân khấu không ai ưa. (Mà có ai lại đi ưa nhà phê bình sân khấu cơ chứ?). Anh ta còn mang vận xui khi hầu như đã đắc tội với tất cả các nhân vật khác bằng cách này hay cách khác; ngoài ra anh ta còn lén viết một vở kịch mới nhưng không dám đứng tên vì sợ, và còn bị hói nhưng lại cố che đậy bằng một bộ tóc giả. Abraham đã xử lý vai diễn này cực kỳ bản lĩnh, ngay cả cảnh bị tạt đĩa lasagne vào đầu (tất nhiên là phía sau cánh gà thôi). Gãy gọn, chính xác, với khả năng làm chủ nhịp điệu hài hước và đài từ hoàn hảo, Abraham đã tạo nên một nhân vật phản diện đầy lôi cuốn.

Ở chiều ngược lại, Matthew Broderick lại mang đến một màn trình diễn như... một cái cây rô-bốt. Cảm giác như anh ấy chẳng buồn nhập tâm vào vai diễn mà chỉ đang trả bài cho xong chuyện. Cách thoại đơn điệu xen lẫn những tiếng rít kẽ răng đặc trưng chẳng giúp ích gì cho vở kịch. Anh bỏ lỡ nhiều cơ hội gây cười hơn là thực hiện được chúng. Đó là một màn trình diễn kỳ quặc, hời hợt và tẻ nhạt. Có người sẽ bào chữa rằng anh ấy cố tình làm vậy để châm biếm sự nhạt nhẽo của các tác giả ngoài đời; nhưng nếu vậy thì sự châm biếm đó cũng chẳng rõ ràng chút nào. Cực kỳ đáng thất vọng.

Rupert Grint cũng bị chọn sai vai khi hóa thân vào một đạo diễn sân khấu người Anh lừng danh luôn được giới phê bình tung hô. Anh thể hiện một nhân vật đầy lo âu và ngạo mạn nhưng thiếu thuyết phục và không mấy thú vị. Có một phân cảnh với con rối là sáng giá nhất, còn lại thì khá là mờ nhạt. Bộ trang phục đêm khai màn quái dị có lẽ là phần ấn tượng nhất trong phần thể hiện của anh, mặc dù tôi nghi ngờ không có đạo diễn trẻ tài năng nào của Anh hiện nay lại mặc bộ đồ như thế.

Ngôi sao đích thực của đêm diễn chính là Nathan Lane. Anh cực kỳ độc địa và hài hước trong vai James Wicker, một diễn viên đã từ chối vai chính trong vở kịch của bạn thân vì nghĩ nó sẽ thất bại. Anh tung ra những câu nói đùa sâu cay và những lời phỉ báng đầy sảng khoái; cứ như một cỗ máy bắn pháo hoa gây cười vậy. Và khi vở kịch chuyển sang tông trầm, anh cũng chuyển biến tâm lý một cách bậc thầy. Lane đang ở phong độ đỉnh cao nhất, và vở kịch rực rỡ nhất là khi anh và Channing đối đáp tung hứng những câu nói sắc lẹm với nhau.

It's Only A Play rõ ràng là một tác phẩm được tạo ra để dàn sao phô diễn tài năng – cả sáu diễn viên đều được ghi tên trang trọng trên áp phích. Lời khuyên của Hamlet rằng "Vở kịch mới là cốt yếu" đã không được áp dụng ở đây. Nếu không có dàn sao này, vở kịch chắc chắn không thể trụ vững tại Broadway. Bất chấp một thực tế rằng việc trở thành một vở kịch thực thụ chẳng có gì là "chỉ là" cả, It's Only A Play lại cố chứng minh điều ngược lại.

Nhưng nhờ có Lane, Channing, Mullally, Abraham và Stock, vở kịch đã cho thấy các diễn viên thực thụ có thể tạo nên những tiếng cười bùng nổ đến nhường nào.

Chia sẻ bài viết này:

Chia sẻ bài viết này:

Get the best of British theatre straight to your inbox

Be first to the best tickets, exclusive offers, and the latest West End news.

You can unsubscribe at any time. Privacy policy

FOLLOW US